Trang nhất » Tin Tức » Diễn đàn giáo dục » Sáng kiến- Kinh nghiệm

CHUC MUNG NGAY 20-11

SKKN LTVC (Tiep)

Thứ tư - 12/11/2014 10:06
Năm học 2013-2014 SKKN Linh hoạt sáng tạo trong dạy “Quan hệ từ” của cô giáo - P.Hiệu trưởng - Nguyễn Thị Hoài Nam trường Tiểu học Đông Sơn đã đạt cấp Tỉnh.
 Giải pháp 3: Đa dạng hoá các hình thức tổ chức và linh hoạt trong lựa chọn nội dung dạy QHT:
a. Khi dạy quan hệ từ GV không nên tuân thủ máy móc theo các nội dung ở sách giáo khoa mà GV bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng, mục tiêu của tiết học mà chủ động trong việc lựa chọn ví dụ, lựa chọn nội dung các bài tập, phương pháp, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, HS dễ tiếp thu kiến thức của bài học.
b. Phân ra từng dạng quan hệ từ để dạy và giúp HS biết tác dụng của từng loại quan hệ từ cụ thể.
Ví dụ:   Tiết Luyện từ và câu (tuần 11, TV5, trang 109, 110)
Để hình thành khái niệm QHT thì  tôi  lựa chọn bài tập 1 SGK để dạy:
Bài 1: Trong mỗi ví dụ dưới đây từ in đậm được dùng để làm gì ?
Bài 1 ở SGK tôi chọn để giúp HS hình thành kiến thức: Tác dụng của tất cả QHT là dùng để nối các từ ngữ đứng trước và sau nó lại với nhau và làm cho ý của các câu văn, đoạn văn chặt chẽ hơn.
- Rừng say ngây ấm nóng.
                                                Ma Văn Kháng
- Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.
                                                            Võ Quảng
- Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai uyển chuyển hơn cành đào.
                                                  Theo mùa xuân và phong tục Việt Nam
 Để hiểu được tác dụng của QHT và cách sử dụng QHT tôi chọn bài tập sau: ( GV tự lựa chọn nội dung)      
 Nêu tác dụng của QHT  rồi        
- Vườn cây đâm chồi nảy lộc rồi vườn cây ra hoa.
- Em học thuộc lý thuyết rồi em mới làm bài tập.
- Các em quét nhà sạch sẽ rồi mới lau chùi bàn ghế.
- Con ăn cơm xong rồi  mới uống nước con nhé!
GV sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để tổ chức cho HS hình thành tác dụng của QHT  rồi  là : dùng để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động, các đặc điểm,… diễn ra theo thứ tự trước sau.
 Tương tự đối với QHT khác GV cần thêm bài tập vào, tổ chức cho HS tìm hiểu tác dụng của từng QHT và cách sử dụng từng QHT ( thường dùng vào những trường hợp nào, các từ ngữ được QHT từ đó nối lại thường cố đặc điểm gì?) rèn cho HS luyện đặt câu, viết văn có sử dụng từng quan hệ từ QHT đó; sau đó mới cho HS luyện tập tổng hợp - sử dụng tất cả các QHT.
c. Thay đổi hình thức tổ chức, phương pháp dạy học để gây sự hưng phấn trong học tập hình thành niềm say mê học Tiếng Việt cho các em.
Ví dụ : Khi áp dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để giúp HS hiểu tác dụng của QHT rồi GV tổ chức cho HS chơi các trò chơi học tập để luyện tập kiến thức vừa rút ra như các trò chơi : “Thi đối đáp”; “Ai đúng”, “Ai nhanh”, “Ai hay ”; ...
 Nhóm đôi, nhóm 4, hỏi đối đáp nhau nêu những câu văn có sử dụng QHT mà bạn mình yêu cầu trong thời gian khoảng 2-3 phút. Đại diện các nhóm báo cáo thành tích của nhóm mình ; lớp bình chọn câu văn hay nhất, biết sử dụng QHT phù hợp nhất; cá nhân, nhóm tiêu biểu nhất.
 d. Phân hoá đối tượng để giao nhiệm vụ phù hợp cho các em, làm sao em nào cũng làm được, em nào cũng phải phát huy tối đa năng lực tư duy trong tiết học đó. Tránh tình trạng cả lớp ra một nội dung một mức độ như nhau em kém làm không xong, còn em giỏi còn có thời gian thừa để chơi ngay trong một tiết học thời gian quá khiêm tốn là thế.
Ví dụ: Khi làm bài tập luyện tập:
 Bài 2 :  Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ chấm:
    Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng …..lưng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng……..giấy bóng. Cái đầu tròn …..hai con mắt long lanh …….thuỷ tinh. Thân chú nhỏ…….thon vàng…… màu vàng…….nắng mùa thu. Chú đậu ……cành lộc vừng ngã dài …..mặt hồ. Bốn cánh khẽ rung rung ……còn đang phân vân.
  Chú bay lên cao hơn …xa hơn. Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao …..những khóm khoai nước rung rinh. Rồi những cảnh tuyệt đẹp…… đất nước đang hiện ra: cánh đồng …..những đàn trâu thung thăng gặm cỏ ; dòng sông ……. những đoàn thuyền ngược xuôi. Còn ….tầng cao cánh chú là đàn cò đang bay, là trời xanh trong ….cao vút.
Với bài tập này đối với lớp 5B của trường tôi các em K,G làm cả 2 đoạn còn các em TB thì chỉ cần hoàn thành 1 đoạn là được. Khi tổ chức chấm chữa bài GV gợi mở khéo léo để  cho em làm sai ở đâu thì tự mình phải phát hiện ra lỗi sai và tự chữa lại sau khi nghe câu gợi mở của GV. Khi hoàn thành cả bài tập GV cần giúp HS thấy được tác dụng của QHT trong đoạn văn đó.
Bài 3: Viết một đoạn văn miêu tả cảnh( người, cây cối, con vật, đồ vật,…) có sử dụng các quan hệ từ.
Với bài tập này yêu cầu các em khá, giỏi viết được đoạn văn đúng về bố cục, trọn vẹn về nội dung, biết sử dụng từ ngữ gợi tả, gợi cảm, QHT, nghệ thuật,…; còn HSTB thì chỉ yêu cầu các em viết được đoạn văn đúng về bố cục, trọn vẹn về nội dung, bước đầu biết sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm, QHT.
Khi chữa bài cần cho HS phát hiện được những điểm tốt trong đoạn văn của bạn nhất là cách sử dụng QHT, nêu những sai sót và đề ra cách khắc phục của bản thân, của bạn trong các sai sót đó. GV chú ý tuyên dương sự tiến bộ của HS mặc dù những tiến bộ đó là rất nhỏ nhưng với những HS chậm tiến đó cũng là một thành tích đáng kể.
e. Hình thành nhiều nhóm học cùng tiến để trong nhóm các em giỏi hỗ trợ, giảng giải cho các em còn kém hơn khi mình đã hoàn thành bài tập hay khi các em kém còn lúng túng chưa hiểu bài mà GV chưa giảng giải kịp.
Giải pháp 4: Dạy QHT lồng ghép vào các môn học khác và trong thực tế:
 Chương trình Tiếng Việt Tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp cả hàng dọc và hàng ngang. Ngay trong các phân môn khác của Tiếng Việt cũng có nhiệm vụ giúp học sinh hiểu thêm về quan hệ từ. Bởi vì nếu không lồng ghép quan hệ từ vào dạy trong bài học đó, tiết học đó thì các em sẽ không hiểu hết nội dung cũng như nghệ thuật của đoạn văn, bài văn.
Ví dụ trong môn Tiếng Việt:
Khi dạy bài Tập đọc “Cao Bằng” (tuần 22 TV lớp 5)
                                  Sau khi qua Đèo Gió
                                  Ta lại vượt Đèo Giàng
                                   Lại vượt đèo Cao Bắc
                                   Thì ta tới Cao Bằng.
                                   Cao Bằng, rõ thật cao
                                   Rồi dần dần bằng xuống….
Nếu chúng ta không cho các em nhận biết tác dụng của các quan hệ từ trong khổ thơ một và hai, nó còn giúp cho các em hiểu rõ địa thế rất đặc biệt của Cao Bằng là lên một loạt đèo thì tới Cao Bằng nhưng đến Cao Bằng địa hình lại bắt đầu bằng hơn. Nhờ có QHT lại, thì ở khổ một mà ta biết chặng đường đầu khi đi lên Cao Bằng đều là lên đèo và QHT rồi trong khổ thơ thứ hai mà chúng ta biết được sau chặng lên dốc thì chặng tiếp theo địa hình bằng phẳng hơn. Và rất nhiều bài nữa…
Ví dụ trong môn Toán:
     - Khi dạy So sánh phân số ở lớp 4 hoặc lớp 5 chúng ta cũng phải dạy cho học sinh cách sử dụng quan hệ từ “vì”, “nên”  thì học sinh trình bày bài làm trở nên chính xác, chặt chẽ và khoa học hơn.
So sánh 2 phân số sau:   và    chúng ta hướng dẫn học sinh trình bày bài làm  như sau:   Bước1:   Ta có :      =  ;   =
                 Bước2:     Vì    :     < 
                 Bước3:    Nên   :       <  
-  Khi nhân một số thập phân với  0,1 ; 0,01 ; 0,001 ;… ta làm như thế nào?
( Ta chỉ cần chuyển dấu phẩy của số đó sang trái một, hai, ba,…chữ số.)
-  Khi chia một số cho 0,125 ta làm thế nào?( khi chia một số với 0,125 ta chỉ cần nhân số đó với 8)
-   Khi 2 tam giác có cùng diện tích nếu cạnh đáy của tam giác này gấp đôi tam giác kia thì đường cao của tam giác này sẽ bằng bao nhiêu phần đường cao của tam giác kia?
     Có thể nói việc sử dụng quan hệ từ trong dạy dọc Toán rất thường xuyên hầu như bài học nào, tiết học nào của môn Toán đều phải sử dụng quan hệ từ vì thế chúng ta lồng ghép dạy quan hệ từ vào trong dạy Toán.
Ví dụ trong môn Khoa Học:
Khi hướng dẫn HS làm thí nghiệm:
- Trộn dầu ăn với nước em có nhận xét gì?
- Nếu trộn lẫn một ít nước với xi măng thì xi măng lúc này sẽ có đặc điểm gì? Điều đó chứng tỏ đây là biến đổi Lý học hay biến đổi Hoá học?
Ví dụ trong môn Địa Lý:
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu khí hậu, đặc điểm tự nhiên của châu Phi:
- Do địa hình của châu Phi như một cao nguyên khổng lồ giữa có các bồn địa, không có biển ăn sâu vào đất liền, có đường xích đạo đi ngang qua giữa châu lục nên đặc điểm tự nhiên, khí hậu ở châu lục này như thế nào? ( Nóng khô bậc nhất thế giới.)
- khí hậu nóng và khô bậc nhất thế giới nên đất đai ở châu lục này có đặc điểm tiêu biểu gì? (đất đai khô cằn, có hoang mạc Xa - ha - ra lớn nhất thế giới,...)
Mỗi quan hệ giữa địa hình và khí hậu là mỗi quan hệ gì?
Đây chính là mỗi quan hệ nhân - quả tác động qua lại giữa các yếu tố địa lý với nhau. Nếu trong các tiết học khác chúng ta cũng chú ý tạo cơ hội giúp HS luyện tập làm giàu vốn kiến thức về QHT thì chắc chắn các em sẽ hiểu thấu đáo ý nghĩa của QHT và cách sử dụng chúng một cách thành thạo. 
Ví dụ trong cách giao tiếp hàng ngày:
 Hàng ngày, trong các giờ ra chơi GV có thể ra chơi cùng các em hay định       hướng cho các em chơi gần gũi trò chuyện với các em:
Trong khi chơi em thích chơi với bạn nào nhất?
Khi chơi với bạn em có cảm giác gì?
Các em hay chơi những trò chơi nào?
Khi dạy học tất cả các môn học chúng ta cũng linh hoạt đưa quan hệ từ vào để dạy. Hay nói cách khác dạy quan hệ được GV linh hoạt đưa vào giảng dạy ở mọi lúc mọi nơi, dưới mọi hình thức khi có thể vận dụng được: ví dụ trong việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp HS chơi các trò chơi dân gian như “Nhảy bao bố”: các em nhảy tiếp sức theo nhóm, nhóm nào về đích trước thì nhóm đó thắng cuộc. Tiếp sức nghĩa là em này chạy về đích rồi em khác mới được bắt đầu chạy. Những lúc này chúng ta cần giúp các em biết tác dụng của QHT rồi là: Nối các từ ngữ nêu những sự việc diễn ra theo thứ tự trước sau.
Ví dụ khi dạy bài Luyện từ và câu: QUAN HỆ TỪ Lớp 5 tập 1( Trang 109,110 )tôi tiến hành như sau:
A. Hoạt động cơ bản:
 
 
 
Để tạo hứng thú cho HS trong tiết học trước lúc tìm hiểu nội dung bài tôi sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào để chơi trò chơi sau. HS dựa vào vốn hiểu biết thực tế của mình để cùng nhau chơi trò chơi. Kết thúc trò chơi GV không nhận xét đúng sai mà chỉ tuyên dương động vên khuyến khích các em học tập tốt trong tiết học để tự trả lời được bạn nào làm đúng bạn nào làm chưa đúng nhóm nào làm tốt nhóm nào làm chưa tốt đồng thời kết hợp để giới thiệu bài, ghi mục.
1. Trò chơi thi điền các từ thích hợp ở cột B vào chỗ chấm ở các dòng trong cột A để tạo thành câu:
A   B
Bầu …..bí sống rất hoà thuận bên nhau.   nhưng
Mùa xuân, bưởi ra hoa …. tạo quả.  
Anh Ba nghèo …..rất tốt bụng.   Rồi
Chiếc áo ….. mẹ tôi đã phai màu.   Như
Trời mưa đường trơn….đổ mỡ.   của
…..thân hình nhỏ bé.….cậu ấy rất khỏe.   Tuy…nhưng
2.Tổ chức các hoạt động học tập
2.1.  Đọc và hoàn thành các bài tập dưới đây :

 
 
 
Bài 1 : Tìm các từ in đậm trong các câu dưới đây và cho biết chúng được dùng để làm gì ?
Thông qua bài tập 1 để giúp HS hiểu thế nào là quan hệ từ tôi áp dụng PPDH phân tích ngôn ngữ kết hợp và các phương pháp dạy học tích cực tôi tiến hành như sau:
a. Rừng say ngây ấm nóng.
                                                Ma Văn Kháng
b. Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.
                                                            Võ Quảng
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai uyển chuyển hơn cành đào.
                                                  Theo mùa xuân và phong tục Việt Nam
Cá nhân đọc và hoàn thành bài tập ở phiếu bài tập dưới đây:
PHIẾU BÀI TẬP CÁ NHÂN:
Ví dụ Tìm từ in đậm Tác dụng của các từ in đậm đó trong câu:
a.Rừng say ngây ấm nóng.    
b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên khúc nhạc tưng bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.    
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai uyển chuyển hơn cành đào.    
   
Nếu rừng cây cứ bị chặt phá xơ xác thì mặt đất sẽ ngày càng vắng bóng chim.    
Tuy mảnh vườn ngoài ban công của nhà Thu thật nhỏ bé nhưng bầy chim vẫn thường rủ nhau về tụ hội.    
Dự kiến kết quả cá nhân HS làm ở phiếu bài tập
Ví dụ Từ in đậm Được dùng để (Tác dụng)
a.Rừng say ngây ấm nóng. Nối say ngây và ấm nóng
b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên khúc nhạc tưng bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới. của Nối tiếng hót dìu dặt với Hoạ Mi.
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai uyển chuyển hơn cành đào. như
 
Nối không đơm đặc với hoa đào
nhưng Nối câu 2 với câu 1
Nếu rừng cây cứ bị chặt phá xơ xác thì mặt đất sẽ ngày càng vắng bóng chim. Nếu...thì Nối vế câu 2 với vế câu1
(nối vế chỉ kết quả với vế giả thiết)
Tuy mảnh vườn ngoài ban công của nhà Thu thật nhỏ bé nhưng bầy chim vẫn thường rủ nhau về tụ hội. Tuy...nhưng Nối vế 2 với vế 1( Nối hai vế câu có quan hệ tương phản)
2.2 Nhóm trưởng điều khiển nhóm mình thảo luận để kiểm tra việc hoàn thành bài tập của từng cá nhân:
 
 
 
    
3. Đọc kỹ nội dung sau và nghe thầy cô hướng dẫn:
- Từ in đậm trong câu văn ở ví dụ trên dùng để tả các đặc điểm, tính chất, hoạt động,... của các sự vật hay nối các từ ngữ tả các đặc điểm, tính chất của sự vật ? ( Dùng để nối các từ ngữ tả đặc điểm, tính chất,... của các sự vật )
- Kể thêm một số từ có tác dụng nối mà em biết ? => chúng ta gọi các từ có tác dụng nối đó là QHT
- Các cặp từ:  nếu... thì ; tuy.....nhưng nối vế câu sau với vế câu trước chúng còn biểu thị mối quan hệ nào? (Nếu... thì => Biểu thị mối quan hệ : Giả thiết- kết quả ; Tuy...nhưng => Biểu thị mối quan hệ tương phản)=> Chúng ta gọi cặp từ đó là cặp QHT
- Kể thêm một số cặp QHT khác mà em biết và nêu mối quan của các vế câu mà được chúng nối lại ?
- Đặt một câu có sử dụng QHT?  Đặt một câu có sử dụng cặp quan hệ từ ?
4.  Kết luận: QHT là từ dùng để nối các từ ngữ, các câu, các vế câu đứng sau và trước nó như: và, với, rồi, như, nhưng,...
Nhiều khi trong câu được nối với nhau bằng một cặp QHT chúng biểu thị mối quan hệ: nguyên nhân - kết quả ; giả thiết - kết quả ; tương phản, tăng tiến,....
B. Hoạt động thực hành:
 
 
 
 
1. Đọc kỹ các câu dưới đây gạch hai gạch dưới quan hệ từ và gạch một gạch dưới những từ được chúng nối lại
* Cá nhân hoàn thành bài tập: (GV đến từng nhóm kiểm tra, gợi ý giúp đỡ các HS yếu trong các nhóm).
Chim, Mây, Nước Hoa đều cho rằng tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi đã làm cho tất cả bừng giấc.                                                         Võ Quảng                                                                                           
-  Những hạt mưa to nặng đã bắt đầu rơi xuống như ai ném đá, nghe rào rào.
                                                                             Nguyễn Thị Ngọc Tú
-  Bé Thu rất khoái ra ban công ngồi với ông nội, nghe ông rủ rỉ giảng về từng loại cây.                                                                 Theo Văn Long
                                                                                                               
 
 
 
* Nhóm trưởng điểu khiển nhóm mình thảo luận để kiểm tra kết quả làm việc của các thành viên trong nhóm.
* Yêu cầu các thành viên trong nhóm đặt câu với QHT: và, của, nhưng,….
2. Cá nhân hãy đọc kỹ các câu dưới đây tìm các cặp QHT và cho biết chúng biểu thị mối quan hệ gì giữa các bộ phận của câu.
a. Vì mọi người tích cực trồng cây nên quê hương em có rất nhiều cánh rừng xanh mát.
b Tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng Hoàng vẫn luôn luôn học giỏi.
Cá nhân hoàn thành vào phiếu bài tập:
Câu Cặp QHT Chúng biểu thị Mối quan hệ
A    
B    
3. Em hãy nói cho các bạn trong nhóm biết các cặp QHT trong 2 câu a, b và cho biết chúng biểu thị mối quan hệ gì trong câu?
Hãy đặt một câu có sử dụng cặp QHT và cho biết cặp QHT đó là cặp nào chúng biểu thị mối quan hệ trong câu đó nói cho các bạn trong nhóm nghe?
- Nhóm trưởng điều khiển các thành viên trong nhóm làm việc GV kiếm tra giám sát, hỗ trợ khi cần thiết.
C. Hoạt động ứng dụng:
 
 
 
 
* Sử dụng kỹ thuật trình bày một phút:
- Thi đặt câu có sử dụng QHT và cặp QHT trước lớp (Có thể đặt 3,4 câu liên kết với nhau thành đoạn văn.
- Bình chọn bạn sử dụng QHT, cặp QHT phù hợp nhất trong các câu văn của mình.
Sau khi áp dụng SKKN này tôi đã cho kiểm tra phần kiến thức về QHT với đề sau:
ĐỀ KIỂM TRA PHẦN KIẾN THỨC QUAN HỆ TỪ”
Bài 1: Điền các quan hệ từ trong ngoặc đơn vào chỗ chấm để các dòng sau thành câu (và, nhờ….nên, nhưng, rồi, tuy….nhưng)
a. Tôi học mãi…….chẳng thuộc.
b. Đôi mắt sáng ….. trong của em bé không ngừng nhìn tôi.
c. …..tôi chăm tập thể dục …..nên cơ thể tôi rất cường tráng.
d. Vẽ trang trí các hoạ tiết ….. mới tô màu.
e. ……nhà Lan rất xa…..Lan không bao giờ đi học muộn.
Bài 2: Gạch 2 gạch dưới các quan hệ từ, gạch 1 gạch dưới nhừng từ được các quan hệ từ đó nối lại:
- Nắng vàng lan nhanh xuống chân núi rồi rải vội trên đồng lúa.
- Bình minh của hoa phượng là một màu đỏ còn non, nếu có mưa lại càng tươi dịu.
-            Đời cha ông với đời tôi
        Như con sông với chân trời đã xa.
- Khi nói về mẹ, cô ấy lại rưng rưng nước mắt.
Bài 3: Nêu ý nghĩa của các câu sau? Nhờ đâu mà các câu đó có ý nghĩa khác nhau?
a.      Anh của em học bài.
b.     Anh với em học bài.
c.     Anh và em học bài.
d.     Anh để em học bài.
Bài 4: Chỉ ra lỗi sai của các câu sau và sửa lại cho đúng.
a.      Tuy ông xấu mã và tốt bụng.
b.     Đợi tôi viết xong và anh hãy đọc nhé.
c.     Anh trai tôi xúc đất với cái xẻng nho nhỏ.
d.     Dưới ngòi bút của mình, Nguyễn Trãi đã dựng lên cảnh Côn Sơn thật là nên thơ.
e.      Buổi sáng, mẹ tôi dậy thổi cơm với tôi và anh tôi dậy học bài.
Bài 5: Viết một đoạn văn tả một người bạn thân có sử dụng QHT và cặp QHT và gạch chân dưới các QHT, cặp QHT mà em đã dùng.
Kết quả thu được sau khi khảo sát với đề kiểm tra trên:
Lớp Tổng số HS G   K   TB   Y
    SL TL SL TL SL SL TL
5A 30 8 26,7% 18 60 % 4 13,3% 0
5B 27 12 44,4% 13 48,1% 2 7,5% 0
5C 26 5 19,2% 17 65,4% 4 15,4% 0
Dưới đây là một số đoạn văn mà HS đã viết trong bài kiểm tra:

       
 
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

C.   KẾT LUẬN:
  I. Kết quả:
 Đối với học sinh: Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào dạy Quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, tôi đã thu được nhiều kết quả đáng mừng. Trong các bài kiểm tra môn Tiếng Việt phần kến thức liên quan đến quan hệ từ học sinh làm rất tốt. Nhiều em đã sử dụng khá thành thạo các quan hệ từ khi làm các bài kiểm tra phân môn Tập Làm Văn. Còn khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô, hay vui chơi các em đã nói chuyện tự tin hơn, lời nói trôi chảy hơn, dễ hiểu hơn. Giờ đây bất cứ giờ học hay chơi HS lớp tôi đều thi nhau học tập “Học mà chơi - Chơi mà học. Kết quả rõ rệt nhất đó là 100% HS lớp tôi bây giờ đều yêu thích môn Tiếng Việt và ý thức trau dồi kiến thức môn Tiếng Việt của các em rất tốt, các em luôn xác định được rằng học tốt Tiếng Việt sẽ giúp các em lập luận chặt chẽ khi học Toán cũng như học tốt các môn khác.
 Đối với bản thân tôi trước đây tôi rất ngại phải dạy môn Tiếng Việt. Nhưng từ khi tôi tìm ra được một số giải pháp về dạy học QHT này và đã áp dụng thành công cho học sinh lớp 5B. Bản thân tôi đã dạy thao giảng thực tập nội dung này cho đồng nghiệp xem; trao đổi với đồng nghiệp khối 5, tổ chuyên môn, ban giám hiệu nhà trường và tất cả đều ủng hộ cách dạy QHT của tôi và áp dụng vào dạy cả khối 5 trường tôi và thu được kết quả rất khả quan. Giờ đây, tôi đã yêu thích môn Tiếng Việt hơn trước đây nhiều. Đặc biệt quan trọng hơn giờ đây tôi còn là người tiên phong giúp đỡ đồng nghiệp và cùng đồng nghiệp của mình giải quyết những khó khăn khúc mắc khi dạy học môn Tiếng Việt nói chung dạy QHT nói riêng.
 Với sự nỗ lực của bản thân tôi hy vọng rằng một số giải pháp đã nêu ở trên sẽ góp phần giúp chúng ta thành công hơn và sẽ nâng cao chất lượng dạy Quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.                              
   II. Bài học kinh nghiệm:
 Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 ở Tiểu học nói riêng có vị trí hết sức quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân cách và năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Để dạy tốt Quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5, theo tôi cần chú ý một số vấn đề sau:
- Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ về Quan hệ từ, chức năng quan trọng của quan hệ từ trong việc tạo lập văn bản, nắm chắc tác dụng của từng loại quan hệ từ để sử dụng phù hợp hoàn cảnh giao tiếp.
 - Để tạo hứng thú học tập, giáo viên phải biết cách lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học, kỹ thuật dạy học phù hợp với nội dung bài, phù hợp với tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh.
- Để các em hiểu kiến thức một cách sâu nhất, nhớ được lâu nhất thì GV phải tổ chức các hoạt động học tập thực sự, các em trực tiềp bắt tay vào làm việc, nghiên cứu, tự mày mò tìm tòi phát hiện ra kiến thức thì các em mới thấy thú vị mới tạo được sự hưng phấn trong học tập và mới say sưa học tập hơn. GV chỉ gợi mở định hướng cho các em khi nào các em thật sự bí chứ tuyệt đối không được làm thay các em như rót kiến thức vào đầu các em bắt các em học thuộc một cách máy móc.
 - Biết tổ chức dạy lồng ghép Quan hệ từ vào các phân môn khác của môn Tiếng việt, các môn học khác và vào thực tế. Bằng cách này, giáo viên đã giúp học sinh tự hoạt động để chiếm lĩnh tri thức và các em sẽ tham gia tích cực tất cả mọi hoạt động trong nhà trường, sẽ học tốt tất cả các môn học không xem nhẹ môn học nào.Việc rèn luyện mình thành con người toàn diện cả đức, trí, thể, mĩ đã được các em cụ thể hóa vào tất cả các việc làm hàng ngày ở trường cũng như ở nhà và từ những việc nhỏ nhặt nhất như vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp các em luôn có ý thức tự giác trau dồi, rèn luyện mình ngày một tiến bộ hơn.
- Cần linh hoạt, áp dụng nhiều kỹ thuật dạy học, nhiều thủ thuật trong dạy học từng bài cụ thể nhằm kích thích sự sáng tạo và hứng thú của học sinh trong học tập.  
Kết quả đạt được ở trên là rất đáng mừng tuy nhiên mới ở phạm vi trong trường. Với trình độ và khả năng có hạn, chắc rằng kinh nghiệm trên sẽ không tránh khỏi khuyết điểm. Rất mong sự góp ý và trao đổi của các đồng chí, đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện hơn, góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng học tập của HS.
                                     Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hoài Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin cũ hơn