Trang nhất » Tin Tức » Diễn đàn giáo dục » Sáng kiến- Kinh nghiệm

CHUC MUNG NGAY 20-11

SKKN

Thứ hai - 10/11/2014 21:06
SKKN: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Tiểu học.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Quá trình toàn cầu hoá đang chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc, tác động mạnh mẽ tới tận các quốc gia. Để hoà mình với xu thế chung của thời đại, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng Việt Nam chúng ta đã và đang nỗ lực hết mình để xây dựng và phát triển đất nước. Để xây dựng và phát triển đất nước vững mạnh thực sự, một trong những vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đó là giáo dục và đào tạo. Đây là vấn đề quan trọng, tạo bước đi vững chắc trên con đường hội nhập và phát triển kinh tế đất nước. Nghị quyết hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII lần thứ hai đã chỉ rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”; “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh”. Kết luận của hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu “Bố trí cán bộ quản lý các cấp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán bộ; xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu thời kì đổi mới; hoàn thiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý”… Từ đó chúng ta có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo nhất là chất lượng đội ngũ giáo viên.
    Như chúng ta biết, Tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, là nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy đội ngũ giáo viên tiểu học giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng bởi đây chính là lực lượng quan trọng góp phần quyết định chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông.
    Chất lượng giáo dục của Việt Nam chúng ta trong thời gian gần đây đã có nhiều khởi sắc đáng kể, được Đảng, nhà nước và thế giới ghi nhận. Song chúng ta đang đứng trước một thực tế là: Một phần đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục trong giai đoạn hiện nay
     Những năm gần đây giáo dục Đô Lương được đánh giá là một trong những huyện đứng tốp đầu của tỉnh. Tuy vậy chúng ta dám mạnh dạn nói rằng chất lượng giáo dục được nâng lên nhưng chưa thật đồng đều, chưa toàn diện. Riêng trường chúng tôi, hàng năm tuy được xếp vào thứ hạng khá so với các trường trong huyện nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế và cũng đang còn nằm trong tình trạng chung về đội ngũ giáo viên đó là “vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu”.
    Là một người làm công tác quản lý, chịu trách nhiệm chính về chất lượng giáo dục của nhà trường, trong những năm qua,  để thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục, tôi đặc biệt quan tâm tới chất lượng đội ngũ giáo viên và thực sự coi đây là vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh. Để nâng cao chất lượng giáo dục, việc quan trọng hàng đầu là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong cả lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; năng lực, kiến thức và kĩ năng sư phạm nhằm đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay. Xuất phát từ nhận thức trên và thực trạng của đội ngũ giáo viên hiện nay của nhà trường, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Tiểu học nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay”. Đây là một đề tài mà tôi thử nghiệm trong mấy năm gần đây , đã có hiệu quả đáng kể và đã được hội đồng khoa học huyện xếp bậc 3 khuyến khích năm học 2012-2013. Trong quá trình vận dụng, để từng bước nâng cao chất lượng của đề tài, năm học này tôi bổ sung thêm một số giải pháp nhằm đem lại hiệu quả cao hơn.
B. NỘI DUNG
I. Thực trạng về giáo viên và vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hiện nay.
      Thực trạng đội ngũ giáo viên trường chúng tôi nhìn chung còn khá trẻ, hầu hết có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng kiên định vững vàng, luôn có ý thức học hỏi vươn lên, yêu nghề mến trẻ, bám trường, bám lớp, hăng say trong công việc, có năng lực chuyên môn, thực hiện tốt công tác đổi mới phương pháp dạy học, được sự tín nhiệm của cấp trên, đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh. Có nhiều giáo viên hàng năm đạt các danh hiệu cao như Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, nhiều năm liền đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, bồi dưỡng được nhiều học sinh giỏi các cấp… Song bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên chưa thật vững vàng trong kiến thức, nhiều hạn chế về năng lực sư phạm, hay còn thiếu ý thức trách nhiệm trong quá trình lên lớp dẫn đến hiệu quả giờ dạy chưa cao. Như chúng ta biết đối với bậc Tiểu học, lượng kiến thức chương trình chưa quá khó, chỉ có điều giáo viên chưa chịu khó, chưa có ý thức cố gắng  học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chưa thật sự quan tâm đến công tác tự bồi dưỡng, chưa tập trung trong công tác đỏi mới phương pháp dạy – học. Thậm chí có một vài giáo viên(GV) bằng lòng với thực tại nên hiệu quả giảng dạy và giáo dục chưa cao. Qua thực tế khảo sát trường tôi có đến 4 giáo viên thường xuyên có tiết dạy đạt đầu khá hoặc chỉ đạt yêu cầu, thậm chí có tiết xếp loại chưa đạt yêu cầu.
Bảng thống kê kết quả đội ngũ giáo viên các năm trước như sau:
Năm học Tổng số GV
Trong trường
Trình độ Năng lực CM Giáo viên dạy giỏi
Đại học Cao đẳng TC Giỏi Khá TB Tỉnh Huyện Trường
2010-2011 22 14 6 2 2 5 15 0 5 10
2011-2012 22 17 5 0 3 11 8 1 6 12
2012-2013 22 17 5 0 6 9 7 1 6 12
   Nhìn vào bảng thống kê ta có thể thấy rằng 100 % GV có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Số GV có trình độ trên chuẩn đào tạo cao nhưng về kết quả xếp loại hàng năm  thì số GV được xếp loại khá giỏi còn ít,  qua thực tế có thể rút một số nguyên nhân là: 
- Một số GV trình độ, kiến thức có hạn.
- Một số giáo viên năng lực chuyên môn chưa cao.
- Một số GV có trình độ, năng lực nhưng chưa thật sự tự giác trong công tác đổi mới phương pháp dạy học.
- Một số giáo viên có ý thức bằng lòng với hiện tại, không có ý thức phấn đấu.
- Kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ của nhà trường chưa cụ thể, thiếu thiết thực, chưa linh hoạt.
- Công tác kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo chưa thường xuyên. Việc đánh giá xếp loại giáo viên nhiều lúc còn phiến diện.
- Thời gian dành cho công tác bồi dưỡng giáo viên còn ít. Đội ngũ giáo viên cốt cán của nhà trường ít.
- Hoạt động của tổ chuyên môn, nòng cốt chuyên môn chưa năng động, thiếu hiệu quả...
     Tóm lại:  Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng  giáo dục. Muốn phát triển giáo dục nói chung, Tiểu học nói riêng thì không thể không nói đến công tác bồi dưỡng đội ngũ, đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Nếu giáo viên yếu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì không thể nâng cao được chất lượng giáo dục. Chúng ta ai cũng có thể nhận thức rằng một nền giáo dục không thể phát triển cao hơn trình độ người xây dựng nên nó. Trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay, đứng trước thách thức mới thì vai trò người giáo viên càng quan trọng, bởi vậy việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là cần thiết. Là người cán bộ quản lý nhà trường, tùy theo đối tượng cụ thể mà đề ra được các giải pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho nhà trường. Sau đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng trong thời gian qua mà bản thân thấy có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng giờ dạy của giáo viên và chất lượng giáo dục của học sinh.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ tôi đã thực hiện các giải pháp sau đây:
1. Tìm  hiểu, nắm chắc tình hình đội ngũ giáo viên.
      Để có kế hoạch và các giải pháp phù hợp, hiệu quả về việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, điều đầu tiên hiệu trưởng phải làm là tìm hiểu tình hình đội ngũ giáo viên của mình về nhiều mặt như: về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, về kiến thức, năng lực chuyên môn, về lịch sử quá trình đào tạo, quá trình công tác, hoàn cảnh gia đình, sở trường, sở đoản, tâm tư nguyện vọng…Trong quá trình tìm hiểu cần chú ý đến cả quá khứ, hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai. Việc tìm hiểu này cần tránh những định kiến ban đầu, nhìn con người một cách tĩnh tại khi mới tiếp xúc hoặc mới nắm được một số tư liệu về quá khứ của họ. Nhiều giáo viên trong quá khứ có thể có nhiều khuyết điểm song nhờ giúp đỡ của tập thể và sự cố gắng của bản thân, họ đã vươn lên thành người tốt và ngược lại có người tuy đã đạt được những thành tích và danh hiệu nhất định nhưng không chịu khó học hỏi  nên không đáp ứng những yêu cầu đổi giáo dục hiện nay.
     Qua tìm hiểu thực tế, về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống hầu hết đội ngũ giáo viên trường tôi đều tốt. Còn về kiến thức và năng lực sư phạm, qua tìm hiểu, khảo sát thực tế chúng tôi xếp vào các nhóm sau:
    Nhóm 1: Số GV vững vàng về cả kiến thức lẫn năng lực sư phạm. Nhóm này tạm yên tâm, chỉ cần nhắc nhở động viên khích lệ và có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao phù hợp  là được. Tuy nhiên cũng cần làm tốt công tác bồi dưỡng để họ tiến bộ hơn. Số đông thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cần làm tốt công tác động viên khuyến nhích để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một số khá hơn cần động viên, bồi dưỡng thêm để làm đội ngũ cốt cán chuyên môn cho trường và là nguồn để đại diện nhà trường tham gia dự thi GV dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh...
    Nhóm 2: Số GV có kiến thức nhưng năng lực sư phạm còn yếu.
( nhóm này có 01 người)
     Nhóm 3: Số GV năng lực sư phạm được nhưng kiến thức chưa sâu(Nhóm này có 4 người)
   Nhóm 4: Số GV trong giảng dạy còn non về cả kiến thức và cả năng lực sư phạm ( Nhóm này có 1 người).
Như vậy qua phân tích, tìm hiểu đội ngũ có 6 giáo viên thường xuyên có kết quả tiết dạy chưa cao, cần được quan tâm giúp đỡ nhiều trong việc nâng cao chất lượng giờ dạy. Việc phân tích tìm hiểu đối tượng là việc làm cần thiết. Đầu tiên của người quản lí, có tìm hiểu sâu đội ngũ thì mới có kế hoạch sát đúng để bồi dưỡng giáo viên một cách có hiệu quả.
2. Lập kế hoạch bồi dưỡng:
     Thực tiễn đã khẳng định: Giáo viên là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục của học sinh cho nên muốn có chất lượng giáo dục tốt trước hết phải làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ. Để làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng cần xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng phù hợp, sát thực tế. Trên cơ sở đội ngũ GV hiện có, qua phân tích, tìm hiểu năng lực cụ thể của từng đối tượng cần lập kế hoạch bồi dưỡng đối với từng nhóm đối tượng cụ thể.   
      Để lập được kế hoạch cụ thể, đầu tiên phải tổ chức khảo sát năm bắt chất lượng đội ngũ qua dự giờ: dự giờ bằng nhiều hình thức khác nhau như dự giờ có báo trước, dự giờ không báo trước, dự giờ thực tập, qua thi giáo viên dạy giỏi cấp trường; qua kiểm tra sổ tích luỹ, tự học tự rèn; qua đánh giá bằng các nguồn tin khác...từ đó biết rõ 6 giáo viên cần được bồi dưỡng về kiến thức và về năng lực sư phạm.
     Cụ thể có 1 giáo viên có kiến thức khá vững chắc nhưng khi thể hiện tiết dạy thường không cao, lí do là do cách truyền thụ của GV không tốt, sử dụng các phương pháp dạy học chưa phù hợp, trình bày không hết ý của nội dung cần truyền đạt, lệnh thiếu dứt khoát, lời nói khô khan, chưa khích lệ được sự chú ý của học sinh trong quá trình dạy học. Có 4 giáo viên kiến thức chuyên sâu hơi yếu nhưng có năng lực truyền thụ khá thu hút học sinh: nói nhẹ nhàng, mạch lạc, phương pháp tổ chức lớp tốt nhưng chưa biết cách khai thác sâu một số nội dung cơ bản, các kiến thức cần vận dụng cần thiết ở trong bài dẫn đến kết quả tiết dạy chưa sâu, đạt kết quả chưa cao. Đối với 1 giáo viên khác có ưu điểm là công tác chủ nhiệm lớp rất tốt nhưng kiến thức chuyên sâu và phương pháp tổ chức dạy học còn non vì vậy tiết dạy thường không sai nhưng không sâu, không có điểm nhấn dẫn đến không khắc sâu được nội dung kiến thức, mục tiêu của bài dạy cho học sinh sau mỗi tiết dạy. Chính vì vậy điều cần thiết là phải lập kế hoạch cụ thể cho từng nhóm cụ thể nhằm giúp GV tổ chức các tiết dạy đạt hiệu quả cao hơn.
   Đối với tất cả các giáo viên trên việc cần thiết là phải cho họ biết năng lực thực sự của bản thân và cho họ thấy họ cần học tập nâng cao những gì, học tập ai và học vào lúc nào... Muốn vậy, điều đầu tiên là phải thường xuyên dự giờ họ, sau dự giờ cần có kiểm tra, đánh giá, cần thẳng thắn góp ý một  cách trung thực, chân thành và hết sức gần giũ cởi mở để họ tiếp nhận một cách thoải mái vui vẻ và có thiện chí. Tránh tình trạng mỉa mai, mạt sát, khinh thường để họ thiếu tự tin dẫn đến tự ti.
     Đối với giáo viên ở nhóm 2 yếu về năng lực sư phạm, các tiết dạy của các GV này hầu như bị “khô cứng”, rời rạc, không phát huy được tích tích cực của học sinh. Để cải thiện vấn đề này cần quan tâm bồi dưỡng cho họ cách lập kế hoạch lên lớp, cách lựa chọn các phương pháp lên lớp, cách xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, cách hướng dẫn, gợi mở cho học sinh khi tìm hiểu bài, cách khêu gợi học sinh phát huy tính sáng tạo, linh hoạt, cách thể hiện thái độ thân thiện, cởi mở đối với học sinh, cách động viên khuyến khích học sinh trong các hoạt động. Bên cạnh đó biết lựa chọn nội dung truyền thụ sao cho có trọng tâm, đầy đủ, khoa học và phù hợp đối tượng học sinh của lớp để các em vui vẻ, nhẹ nhàng, phấn chấn trong học tập, biết cách tư duy, suy luận tìm hiểu nội dung kiến thức.  Việc này cần được bồi dưỡng thường xuyên và bằng nhiều hình thức phương pháp khác nhau, chủ yếu là dự giờ thăm lớp rồi góp ý bổ sung hoặc xây dựng tiết dạy thể nghiệm chuyên đề sau đó cho họ thể nghiệm và làm tốt công tác đúc rút kinh nghiệm. Trong khi góp ý, để các giáo viên tiếp thu một cách có hiệu quả chúng ta cần có thái độ nhẹ nhàng, thoải mái, gần gũi, thân thiện, đôi lúc có thêm chút hài hước. Với nhiều lần như vậy giáo viên sẽ tiến bộ rõ rệt, chất lượng giờ dạy được nâng cao dần lên.
     Đối với các giáo viên ở nhóm 3, các GV này thường xuyên có tiết dạy không cao thậm chí có tiết không đạt yêu cầu vì thể hiện nội dung bài học không sâu, không có nội dung phân hoá đối tượng học sinh trong lớp, chưa thể hiện hết nội dung yêu cầu bài dạy, nội dung cần khắc sâu cho HS GV không thể hiện được. Trong quá trình dạy GV chỉ biết bám SGK,SGV không thể hiện được nội dung cầ vận dụng, mở rông thêm cho học sinh, chưa thể hiện được theoyêu cầu “Biết mười-  dạy một”. Có nghĩa là trong tiết dạy GV phụ thuộc hầu hết vào sách giáo khoa, chỉ  dạy hết những điều trong sách nêu ra chứ chưa cung cấp thêm cho học sinh của mình một số vấn đề mà một số bài tập muốn đề cập tới hoặc một số nội dung khắc sâu, nâng cao...Vì vậy cần quan tâm đến việc bồi dưỡng về kiến thức chuyên sâu liên quan đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên- xã hội, các nội dung kiến thức chuyên sâu cần thiết để vận dụng sâu vào bài học nhằm giúp học sinh chắc và nhớ lâu nội dung bài học. Đối với các GV ở nhóm này cần quan tâm nhiều đến công tác bồi dưỡng kiến thức để GV có “vốn tri thức” mà vận dụng vào bài dạy thực tế.
       Đối với các giáo viên ở nhóm 4 yếu đều cả kiến thức lẫn phương pháp, để nâng cao chất lượng giờ dạy đối với các GV này cần phải thực hiện tốt công tác tự học tự rèn để nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu GV đầu tư thời gian để chuẩn bị bài dạy, cần phải nghiên cứu kĩ hơn về cả nội dung kiến thức của bài và cách lựa chọn phương pháp hình thức lên lớp cũng như việc xác định nội dung trọng tâm của bài dạy, nội dung cần liên hệ thực tế cần thiết cho học sinh, đồng thời sửa chữa một số thói quen trong cách dùng từ ngữ khi lên lớp cũng như thái độ, sự quan tâm gần gũi, thân thiện với học sinh trong quá trình dạy- học. Đối với các GV này không chỉ hiệu trưởng, lãnh đạo nhà trường mà cần huy động nhiều lực lượng tham gia, dành nhiều thời gian  để bồi dưỡng thì mới có hiệu quả.
Như vậy mỗi nhóm GV cần được bồi dưỡng, người Hiệu trưởng cần lập được kế hoạch bồi dưỡng, bố trí thời gian và lực lượng hỗ trợ một cách cụ thể:
  • Về thời gian: Vào thời gian
  • Loại bài : bài mới, bài luyện tập, bài thực hành, bài chuyển giai đoạn... vd:
       Bên cạnh kế hoạch của Hiệu trưởng, Hiệu trưởng cũng cần yêu cầu bản thân giáo viên lên kế hoạch tự học tự bồi dưỡng một cách cụ thể, phù hợp, được hiệu trưởng, PHT phê duyệt và thực hiện một cách nghiêm túc, được kiểm tra đánh giá thường xuyên.
Việc lập kế hoạch là quan trọng nhưng việc thực hiện theo kế hoạch cũng cần được thực hiện nghiêm túc vì người QL nhiều lúc có những công việc không định trước được.
3. Sắp xếp, sử dụng đội ngũ giáo viên:
   Đây là khâu quan trọng trong công tác cán bộ vì có sắp xếp, sử dụng hợp lý đội ngũ mới giúp mọi người phát huy hết tài năng, năng lực để nâng cao chất lượng trong công tác. Qua sử dụng, tìm hiểu, Hiệu trưởng nắm được mặt mạnh, mặt yếu của giáo viên, từ đó phân công công việc một cách hợp lý. Việc phân công giáo viên thường tiến hành vào đầu năm học nhưng cũng có thể thông báo dự kiến vào cuối năm học trước hoặc trước tháng 8 để giáo viên có điều kiện chuẩn bị.
      * Khi phân công cần chý ý:
   Phải xuất phát từ yêu cầu vì lợi ích của học sinh là chính. Chú ý ưu tiên các GV có năng lực trước, sau đó bố trí các giáo viên có thuọc nhóm có kiến thức hơi non dạy lớp hai, lớp ba, bởi ở hai khối lớp này học sinh cũng đã có ý thức học tập, lượng kiến thức của các lớp 2, 3 chưa nhiều và không phức tạp như các khối 4,5 và lớp đòi hỏi tính kiên trì, năng động như khối 1. Các GV có kiến thức khá nhưng non về phương pháp, nếu thiếu GV nên bố trí dạy khối 4,5 đồng thời năm học sau không nên để các GV này theo lớp mà nên bố trí GV khác khá hơn.
    Khi phân công giáo viên cần chú ý bố trí trong khối có giáo viên giỏi làm
nòng cốt. Các khối trưởng, tổ trưởng phải là các GV có năng lực, có uy tín và nhiệt tình để giúp hiệu trưởng trong công tác quản lí, bồi dưỡng tổ viên. Hiệu trưởng cần làm tốt công tác phối hợp với tổ trưởng, khối trưởng trong công tác quản lí và bồi dưỡng giáo viên của mình, nếu làm tốt được vấn đề này thì đây là lực lượng quan trọng trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng.
4. Các nội dung bồi dưỡng: 
4.1 Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, nâng cao nhận thức của người giáo viên để GV cố gắng nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay:
    Trước tiên Hiệu trưởng phải làm cho giáo viên hiểu rằng: Người giáo viên trong giai đoạn hiện nay phải là người thật sự năng động, thật sự có hiểu biết về kiến thức cơ bản, kiến thức về tâm lí học sư phạm, kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ... Vì vậy họ cần phải không ngừn học tập. Muốn vậy trước tiên Hiệu trưởng cần phải thường xuyên làm tốt công tác phổ biến thông tin thời sự, thông báo kịp thời cho cán bộ, giáo viên nắm rõ những Chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước, các Chỉ thị, Nghị quyết, đặc biệt là những thông tin, quy định của ngành và địa phương để mỗi giáo viên đều nắm rõ và thực hiện tốt các Chủ trương, đường lối chung của các cấp đề ra. Không những yêu cầu giáo viên thực hiện đầy đủ mà phải là những người thật sự gương mẫu, tiên phong đi đầu trong tất cả các phong trào, tạo được uy tín thực sự trong cơ quan và cộng đồng - xã hội. Hàng năm tổ chức cho GV học tập và làm tốt công tác đánh giá xếp loại GV theo quyết định số 14/2007 về chuẩn nghề nghiệp GV Tiểu học. Qua  đánh giá xếp loại cần và phải làm rõ mỗi bản thân GV còn yếu chỗ nào, tiêu chí nào mình chưa đạt thì phải cố gắng học tập để đạt chuẩn theo từng tiêu chí của các yêu cầu.
 Cần làm cho giáo viên hiểu rằng cần phải tự khẳng định mình bằng cách cố gắng học hỏi, thật sự yêu nghề, tận tâm, tận tuỵ với nghề, phải thực sự cố gắng học tập vươn lên để khẳng định vị trí, vai trò của bản thân mình trong lòng học sinh, trong phụ huynh và đồng nghiệp. Muốn vậy mỗi giáo viên cần phải hết sức cố gắng để học tập tu dưỡng về mọi mặt, nếu không sẽ bị tụt hậu và tự đánh mất vị trí, uy tín của chính mình.
     Công tác bồi dưỡng tư tưởng cho GV là công việc quan trọng hàng đầu, nếu người giáo viên hiểu được rằng trách nhiệm của mình là phải làm được như thế thì với sự hỗ trợ nhiệt tình của LĐ nhà trường, của đồng nghiệp, chắc chắn họ sẽ làm được.
4.2. Bồi dưỡng nâng cao  kiến thức cho GV:
   Như chúng ta đã biết nội dung cốt lõi của chuẩn giáo viên Tiểu học về mặt kiến thức đó là:
        + Nắm vững các kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình để dạy được tất cả các khối lớp của tiểu học, đáp ứng yêu cầu học tập của tất cả các đối tượng học sinh.
      + Có kiến thức nghiệp vụ sư phạm: Tâm lý học sư phạm, giáo dục học Tiểu học và phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học.
      + Có kiến thức phổ thông về chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội, quản lý hành chính nhà nước, môi trường, dân số, an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, quyền trẻ em, y tế học đường...để vận dụng sâu vào bài dạy.
   Trong thực tế một số giáo viên do trình độ năng lực còn có hạn lại thêm không chịu khó học hỏi, không chịu khó nghiên cứu bài nên chưa làm tốt khâu truyền tải và vận dựng kiến thức chuyên sâu cho HS, chưa nêu được các nội dung liên hệ thực tế để giúp học sinh nắm vững kiến thức trong quá trình dạy- học.
Ví dụ: Khi dạy bài luyện tập sau khi học phép tính cộng, trừ ở lớp 2 có dạng bài:
A + B = C
B + A = ...
C – A = ....
C – B = ....
Gv cứ bắt học sinh tính  rồi điền kết quả mà không  hướng dẫn cho HS  biết mối quan hệ của phép công và phép trừ, nhìn vào kết quả phép tính đầu tiên mà đọc ngay kết quả.
 
 
 
 
 
     Có GV dạy bài: Hoạt động của người dân ở đồng bằng duyên hải Miền Trung Gv cho học sinh xem tranh về lễ hội rước cá Ông nhưng khi học sinh hỏi Cá Ông là cá gì thì GV không biết. Lý do ở đây là GV không chuẩn bị bài chu đáo, không có kiến thức, lên lớp một cách hời hợt .
    Hay có giáo viên lớp 4 dạy bài địa lí: Châu Phi. GV vẫn dạy bằng đèn chiếu vẫn cung cấp cho học sinh Châu Phi có nhiệt độ khô, nóng vào bậc nhất thế giới, có nhiều hoang mạc, cho học sinh xem tranh, ảnh về Cao nguyên, sa mạc, bồn địa... nhưng không cung cấp cho học sinh biết tại sao ở đây lại có khí hậu khô nóng như vậy. Ở các bài như thế trong sách giáo khoa, sách  giáo viên không hướng dẫn hết các nội dung cụ thể nhưng để học sinh nắm chắc bài học và nhớ lâu nội dung bài thì người giáo viên phải tìm hiểu sâu nội dung của bài, biết tìm hiểu thêm kiến thức, vận dụng kiến thức vốn có của mình để cung cấp cho học sinh. Hay GV phải biết cách khai thác bài học để học sinh tìm hiểu và nắm chắc bài học.
 Hay do không hiểu và không chịu khó tìm hiểu nên có GV khi dạy bài địa lí lớp 5 bài: Thương mại và du lịch. GV cho học sinh thảo luận nhóm và nêu tên một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, một số lễ hội đặc sắc ở nước ta, GV cho HS quan sát 4 hình ảnh ở SGK và chốt: Đây là 4 cảnh đẹp ở đất nước và nơi đây đã thu hút được nhiều khách du lịch. Vấn đề là GV chưa hiểu được cách sắp xếp và ngụ ý của sách giáo khoa là giới thiệu một số cảnh đẹp, di tích nổi tiếng của các vùng miền đất nước đến với  khách trong nước cũng như quốc tế biết về các nét đặc sắc của các di sản đó. 
Hình ảnh 3: Bãi biển Vũng Tàu -  là một cảnh đẹp thiên nhiên của đất nước.
Hình ảnh 4: Biểu diễn nhã nhạc cung đình Huế -  là một kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
 Hình ảnh 5: Đền Hùng( Phú Thọ) - Là một di tích kịch sử- văn hoá phi vật thể. (Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại).
Hình ảnh 6: Di tích Mĩ Sơn( Quảng Nam) – Là một di sản văn hoá thế giới.
 Vẫn biết rằng tất cả đều là cảnh đẹp, nét đặc sắc, là di văn hoá... song cũng cần phân biệt rõ và cung cấp thêm kiến thức cụ thể cho học sinh khá giỏi nắm rõ hơn đâu là cảnh đẹp thiên nhiên, đâu là di sản văn hóa, đâu là di tích lịch sử, là kiệt tác văn hóa cho HS hiểu rõ hơn. Ngoài ra nên cung cấp thêm cho học sinh một số danh lam thắng cảnh, di tích nổi tiếng khác nếu có thể.
    Muốn khắc phục tình trạng này quả là một vấn đề khó, cần phải kịp thời, thường xuyên, lâu dài và bền bỉ. Để giúp giáo viên đáp ứng yêu cầu về mặt kiến thức thì không có con đường nào khác là phải làm tốt công tác bồi dưỡng, mở rộng trình độ hiểu biết cho giáo viên thông qua việc động viên giáo viên tìm hiểu, học tập qua sách báo và các phương tiện thông tin khác. Ngoài ra nhà trường còn chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức dự giờ thăm lớp, thực tập vòng, tham gia các cuộc thi do các cấp đề ra, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề trao đổi các vấn đề cần thiết như phương pháp dạy các bài khó chương khó, giáo dục môi trường, giáo dục kĩ năng sống, tổ chức tốt việc viết và vận dụng sáng kiến kinh nghiệm... Hiệu trưởng phối hợp với các tổ chuyên môn bồi dưỡng giúp đỡ những giáo viên còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Làm tốt công tác động viên giáo viên tự học tự rèn, có kế hoạch và tạo điều kiện cho giáo viên được học tập bồi dưỡng chuẩn hoá và trên chuẩn...
 Yêu cầu giáo viên dành nhiều thời gian hơn để nghiên cứu bài dạy, phải tự mình nghiên cứu soạn thảo nội dung bài dạy cho mình, không được sao chép của người khác. Nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy cần đạt được là gì? cần nghiêm cứu thêm nội dung liên quan nào để hướng dẫn học sinh củng cố, mở rộng hoặc nâng cao. Nội dung cần vận dụng, liên hệ phải được ghi rõ trong giáo án, phần nào chưa hiểu thì phải học hỏi thêm ở sách, báo, đồng nghiệp hay tra cứu các tài liệu cần thiết. Hiện tại có phương tiện hết sức hiện đại và tiện lợi đó là tra cứu mạng intennts. chỉ cần có tinh thần học hỏi, chịu khó là có ngay kết quả. Cần tạo cho GV có thói quen học hỏi, tìm hiểu để vận dụng kiến thức và bài dạy của mình một cách tốt nhất.  
 Lãnh đạo nhà trường cố gắng giành thêm thời gian để dự giờ, sau dự giờ cần góp ý cụ thể cho các GV đó,  góp ý kĩ ở các nội dung cần khai thác sâu, cần vận dụng kiến thức mà GV chưa thể hiện được, góp ý để họ thấy được rằng đấy là vấn đề cần thiết hoặc có khi là vấn đề cốt lõi để giúp học sinh nhớ và hiểu sâu bài học. Làm kĩ như thế ở một số tiết thì chắc chắn những tiết sau giáo viên sẽ có sự đầu tư hơn, tìm hiểu khai thác sâu và kĩ hơn nội dung bài dạy đồng thời có sự vận dụng liên hệ sâu sát hơn.
   Thường xuyên kiểm tra nội dung kế hoạch bài dạy của giáo viên, Khi thì kiểm tra trên giáo án, khi thì kiểm tra trực tiếp bằng lời trình bày cụ thể của giáo viên khi thì qua dự giờ lên lớp... Đối với các GV này trong giờ dạy thường chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh một cách trung thành máy móc với sách giáo khoa và sách GV chứ không xác định được nội dung trọng tâm, phần nâng cao hay ý đồ ngầm định trong bài của SGK cũng như phần nội dung cần liên hệ, vận dụng thực tế cho học sinh...sau khi kiểm tra, biết được chỗ yếu của Gv thì bổ sung ngay, nói rõ mục đích của vấn đề đó là gì, đối với HS của lớp, kiến thức trọng tâm cần đạt đến đâu...và yêu cầu GV ghi cụ thể vào bài soạn. Từ đó tạo cho GV có thói quen tìm hiểu kĩ và sâu nội dung bài dạy trước khi lên lớp để lên lớp đạt hiệu quả.
   Bên cạnh đó bố trí khối trưởng giám sát nội dung bài dạy qua việc kiểm tra kế hoạch bài dạy một vài lần trong tuần, làm tốt công tác thảo luận cách thức thực hiện các bài dạy khó, chương khó trong tuần của khối để tăng thêm lượng kiến thức cho các đối tượng GV trên.
   Hàng tháng Hiệu trưởng trực tiếp kiểm tra kĩ sổ tích luỹ tự học tự rèn của họ, giành thời gian nhiều hơn để thảo luận với các giáo viên trên về  một số nội dung cần thiết như kiến thức về Tiếng việt, toán, về tự nhiên và xã hội...để tăng thêm vốn hiểu biết cho giáo viên, giúp GV vận dụng tốt hơn trong giảng dạy của bản thân.
Với các cách làm trên, với một khoảng thời gian cộng thêm tinh thần học hỏi của giáo viên chắc chắn họ sẽ có tiến bộ rõ rệt, để tăng thêm tinh thần, sự phấn chấn thì hiệu trưởng không quên có đôi lời động viên khích lệ, một vài lời khen, sự cổ vũ với họ lúc này đúng là liều thuốc bổ hữu ích.
4.3  Bồi dưỡng năng lực sư phạm:
       Chung ta biết rằng để tiến hành các hoạt động dạy học và giáo dục có hiệu quả người giáo viên cần có những kỹ năng sư phạm chính như sau:
      + Kỹ năng lập kế hoạch dạy học phù hợp với thực tế các đối tượng học sinh trong lớp,
      + Kỹ năng tổ chức dạy học trên lớp,
      + Kỹ năng tổ chức quản lý giáo dục học sinh,
      + Kỹ năng giao tiếp (thiết lập các mối quan hệ với học sinh, gia đình học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng).
      + Kỹ năng lập hồ sơ tài liệu giáo dục, giảng dạy...
Đối với  số giáo viên có năng lực sư phạm yếu thường có tiết dạy khô khan. Rời rạc, không biết cách phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, thái độ thờ ơ, thiếu thu hút, thiếu truyền cảm,  các câu nói không dứt khoát, trong quá trình dạy không có điểm chốt, không có điểm nhấn... vì vậy tiết dạy thường không đạt yêu cầu không cao.
Ví dụ : GV dạy bài
 
 
Hoặc khi GV dạy bài tập làm văn lớp 3 kể về buổi đầu em đi học. Qua dự 2 tiết của 2 GV khối 3. Một GV có tiết dạy đạt tốt, một tiết chưa đạt yêu cầu lí do Gv cũng hướng dẫn học sinh đủ các bước: đọc kĩ đề bài; nhớ lại các chi tiết                                                                                         cũng hỏi các em nhớ lại được những điều gì ( hỏi một số em) rồi cho các em viết lại các nội dung các em nhớ sau đó gọi HS trình bày bài của mình trước lớp. Sau khi các em trình bày bài Gv nhận xét bài văn các em viết .....
Trong lúc học sinh yếu nhiều mà GV không biết xây dựng hệ thống các câu hỏi gợi mở hay hướng dẫn bạn khác sửa câu cho bạn để các em học tập.
 
 
 
 
ở trường tôi đã tiến hành một số giải pháp như sau:
- Hiệu trưởng, P.hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn phân công thay nhau  kiểm tra kế hoạch bài dạy của GV rồi góp ý cụ thể: về cách lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức giờ dạy; các nội dung cụ thể cho các đối tượng học sinh trong lớp, cần đi sâu trọng tâm phần nào, cần vận dụng, liên hệ như thế nào? để học sinh nắm chắc nội dung bài dạy.
- Cố gắng dàn xếp thời gian dự giờ các Gv đó nhiều hơn, sau dự giờ cần  phải góp ý cụ thể từ cách tổ chức các hoạt động, cách lựa chọn phương pháp dạy học và nhất là cách truyền tải hệ thống thông tin, cách khai thác bài làm sao cho cụ thể, logic, xây dựng được hệ thống câu hỏi tìm hiểu một cách phù hợp, khai thác bài học một cách có hệ thống và nhất là góp ý, chỉnh sửa cho Gv cách truyền thụ, cách gợi mở, khêu gợi để học sinh  thực hiện tìm hiểu nội dung bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên. Yêu cầu lời nói sao cho rõ ràng, mạch lạc, truyền cảm, cử chỉ thân thiện, gần gũi, khích lệ được tinh thần cố gắng của học sinh. - Yêu cầu các giáo viên làm tốt công tác đổi mới phương pháp dạy học, biết cách lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học sao cho phù hợp với từng loại bài học cụ thể, cách thể hiện ý tưởng sao cho rõ ràng, yêu cầu họ có thái độ dứt điểm, lời nói chững chạc cần nghiêm khắc hơn đối với các học sinh không tham gia hoạt động học tập theo yêu cầu của GV.
  -  Trong hoạt động chuyên môn tổ, nên cử các GV đó dạy thể nghiệm một số chuyên đề để giúp họ được thể hiện, được thực hành nhiều hơn. Sau thể nghiệm, qua sự góp ý của tập thể họ được nghe các đánh giá, nhận xét từ đồng nghiệp và  đây là  cơ hội để họ được học hỏi thêm.
- Tạo điều kiện để các GV đó chủ trì hoặc trợ lý một số cuộc thi, phong trào hoạt động bề nổi của trường, tạo điều kiện cho các GV đó tiếp cận nhiều hơn trong công việc, trong hoạt động tập thể, giống như việc giáo viên chọn nhóm trưởng trong tổ chức hoạt động nhóm khi lên lớp... Từ đó giúp giáo viên thêm chững chạc, thêm tự tin và lòng nhiệt tình trong công việc.
4.4  Động viên giáo viên Tự học tự bồi dưỡng, tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
      - Như chúng ta đã biết: Năng lực giáo viên không hẳn là tỷ lệ thuận với bằng cấp đào tạo mà phụ thuộc nhiều vào quá trình tự học tự bồi dưỡng, tự nâng cao kiến thức năng lực của bản thân. Chính vì thế, chúng tôi luôn luôn động viên giáo viên không ngừng học tập bằng các hình thức như: đọc và tham khảo chuyên san, tạp chí, sách tham khảo, sách bồi dưỡng giáo viên, sách nâng cao, tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi, sách tham khảo giảng dạy, đọc nghiên cứu và vận dụng “tư tưởng Hồ Chí Minh” trong quá trình dạy- học. Tham gia các phong trào học tập cùng với học sinh như giải toán qua mạng, tham gia giải toán tuổi thơ, tiếng anh qua mạng... Bằng nhiều cách, chúng tôi giúp giáo viên hiểu được việc tự học, tự bồi dưỡng là việc làm cần thiết suốt đời của mỗi người để họ có ý thức tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân mình.
    Muốn làm tốt vấn đề trên, trước hết bắt đầu từ sự gương mẫu của cán bộ quản lý, chúng tôi là những người thường xuyên đi đầu trong phong trào tự học, học mọi lúc, học mọi nơi, học bằng mọi hình thức, phải khiêm tốn để học hỏi. Nhà trường cố gắng tạo điều kiện mua sắm đủ tài liệu như: Sách giáo khoa, sách giáo viên, thiết kế bài giảng, chuẩn kiến thức kỹ năng, tạp chí, tập san, sách tham khảo, sách nâng cao, nối mạng lan intenrnet …để giáo viên có điều kiện tham khảo. Đồng thời tạo điều kiện về thời gian để GV có điều kiện học tập:  sắp xếp lịch công tác, thời khóa biểu một cách hợp lý, cải tiến chế độ hội họp để giáo viên có thêm thời gian nghiên cứu, học tập.
    Động viên giáo viên trong việc tự giác dự giờ đồng nghiệp để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm. Quy định mỗi GV dự ít nhất 2 tiết/ 1 tuần, đây cũng là một hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn khá hiệu quả, vì ''học thầy không tầy học bạn''. Khi xây dựng được nề nếp, phong trào tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên chúng tôi đã giải quyết được dứt điểm những tư tưởng ngại khó, tính thỏa mãn, tính tự phụ… làm cho giáo viên thấy được ý nghĩa thực chất của việc nâng cao trình độ là yêu cầu không thể thiếu của người giáo viên trong giai đoạn hiện nay.
    Kiểm tra kĩ hơn và thảo luận cởi mở hơn với các Gv đó trong việc làm các bài tập, các câu hỏi do chuyên môn ra hàng tháng, các bài trong báo toán tuổi thơ, các bài thi theo các vòng thi olimpic... Các bài khó cần được thảo luận kĩ và đi đến thống nhất cách giải hay nhất. Nếu cần thiết thì bộ phận chuyên môn cần hướng dẫn và chữa bài tập một cách cụ thể, tỉ mỉ để họ nắm chắc hơn, hiểu kĩ hơn. Từ chỗ GV hiểu dẫn đến ham thích học tập. Đây là một thành công lớn trong việc xây dựng lòng ham mê học tập. Với cách làm như vậy GV sẽ tự tin hơn, phấn chấn hơn trong học tập và thể hiện mình. 
- Tạo điều kiện giúp GV tham gia các lớp học nâng cao trình độ CM nghiệp vụ.
     Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, những giáo viên trong các đối tượng trên trong mấy năm trước đây cũng là các đối tượng rất cần được học tập để nâng cao thêm trình độ chuẩn và kiến thức cho bản thân. Để làm tốt điều đó, Hiệu trưởng cần làm tốt công tác động viên họ tham gia học tập. Để giúp họ có thời gian và điều kiện tham gia học tập tốt hiệu vụ cần bố trí lịch dạy phù hợp, động viên giáo viên khác dạy thay, dạy giúp họ trong một số tiết khi cần thiết, Cần phối hợp với Công đoàn giúp đỡ kịp thời để họ yên tâm học tập. Với cách làm như vậy đến nay trường chung tôi đã có 95% GV trên chuẩn, hiện tại có 1 GV đang theo học đại học tại chức tại trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh. Trong số 4 Gv trên có 1GV đã tốt nghiệp Đại học tại chức, 2 GV đã tốt nghiệp cao đẳng tại chức.
      Tạo mọi điều kiện để giáo viên tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng, tập huấn do Phòng Giáo dục tổ chức. đồng thời tổ chức tốt các đợt tập huấn tại trường do các GV được tham gia tập huấn ở huyện về triển khai kĩ các nội dung đến tận đội ngũ giáo viên, tổ chức thảo luận kĩ cách tổ chức thực hiện các nội dung trên một cách phù hợp với thực tế đơn vị mình, tổ chức thể nghiệm các chuyên đề một cách hiệu quả. Khi thể nghiệm các chuyên đề như vậy có thể chọn các GV trên thể nghiệm một vài vấn đề và làm tốt công tác đúc rút kinh nghiệm là tốt nhất.
    Tạo mọi điều kiện để giáo viên  tham gia học tập đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp, tổ chức tốt việc “học tập và làm theo Tư tưởng, tác phong Hồ Chí Minh”.  Làm tốt việc tổ chức cho GV đăng kí các nội dung cần học tập thiết thực với bản thân. Đồng thời làm tốt công tác kiểm tra đánh giá để bổ sung  và góp ý  một  cách kịp thời và sát thực
4.5  Chỉ đạo tốt hoạt động của tổ chuyên môn, bồi dưỡng thông qua tổ chuyên môn:
   Trong nhà trường, tổ chuyên môn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, đảm nhận chức năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ chính trị của nhà trường, tổ chuyên môn là cầu nối để tổ chức thực hiện việc kiểm tra đánh giá và bồi dưỡng giáo viên.
     Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 lần/ tháng, nội dung sinh hoạt do tổ trưởng chịu trách nhiệm chuẩn bị, theo sự chỉ đạo thống nhất của hiệu trưởng, phụ trách chuyên môn và mạng lưới chuyên môn của  nhà trường. Tổ chuyện môn cần tổ chức tốt việc dạy thực tập 2-3 tiết/ tuần. Sau mỗi tiết dạy cần tổ chức cho GV trong tổ thảo luận đánh giá góp ý bài dạy thật cụ thể, về các nội dung đánh giá tiết dạy theo quy định.
      Trong khi đánh giá tiết dạy của đồng nghiệp, nên động viên các GV trong các đối tượng trên có ý kiến( tránh tình trạng để các GV khá nói, các GV này chỉ ngồi nghe) . Chú ý đánh giá thật chính xác theo yêu cầu để họ thấy được cần phải học tập điều gì từ bạn và  phải thể hiện tiết dạy như thế nào cho hiệu quả.
       Để tạo ra sự dứt điểm về bồi dưỡng từng chuyên đề, khi thực tập dự giờ chúng tôi bố trí, thực hiện theo quy trình: có thể 2-3 giáo viên cùng dạy một bài giống nhau. Sau khi dạy xong chúng tôi cho thảo luận để trao đổi rút kinh nghiệm ngay. Trước hết là giáo viên tự đánh giá giờ dạy của  mình, trình bày những vấn đề nảy sinh trong quá trình thể hiện tiết dạy, tự rút ra được điều gì mình đã làm tốt và những gì mình chưa thể hiện được rồi nghe những ý kiến đóng góp từ các GV khác… Từ những ý kiến đó cần xác định được những vấn đề cốt lõi, những cách làm hay cần học tập và vận dụng. Vấn đề hay cần được phát huy và những vấn đề nào không hay cần được rút kinh nghiệm. Trong quá trình thảo luận giúp giáo viên hiểu hơn về phương pháp dạy bộ môn, cách thức tổ chức một tiết dạy sao cho hiệu quả. Chú ý sau tiết dạy  tổ  trưởng cần hệ thống lại, bổ sung thêm những điều cần thiết như: Nâng cao hơn về mặt nghệ thuật dạy học, cách  lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp, nội dung nào cần được đi sâu, nội dung nào cần được vận dụng, liên hệ kĩ nội dung nào cần được cung cấp thêm kiến thức thực tế cho học sinh. Hình thức này thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa việc lựa chọn nội dung và hình thức dạy- học cho phù hợp đối tượng học sinh của lớp.
  - Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt khối chuyên môn nhằm thảo luận các bài dạy khó chương khó trong tuần, chuẩn bị các đồ dùng dạy học nào, nên tổ chức dạy học theo hình thức nào…từ đó các GV có sự định hướng cụ thể cho tiết dạy của mình sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của lớp.
    Làm tốt công tác thảo luận các vấn đề khó mà do các GV trong tổ yêu cầu, hay tổ chức bồi dưỡng chuyên môn trong tổ theo quy định của phụ trách chuyên môn theo các chuyên đề... Mạnh dạn giao tính tự chủ cho tổ CM trong công tác hoạt tổ, bởi các tổ CM biết rằng tổ viên mình cần cái gì, cần bổ sung cho những ai, bổ sung cái gì và nắm rõ những vấn đề mà tổ viên đề xuất. Từ đó tổ trưởng lên kế hoạch sinh hoạt phù hợp thực tế của tổ, trình hiệu trưởng phê duyệt và lên kế hoạch cụ thể. Trong việc giải quyết các vấn đề khó của các giáo viên yêu cầu, có những vấn đề hiệu trưởng giao cho tổ trưởng, tổ phó, cốt cán CM nhà trường giải quyết, có những vấn đề Hiệu trưởng phải đứng ra giải quyết, nhưng có những vấn đề khó Hiệu trưởng cần tham mưu đề xuất với chuyên viên Phòng giúp đỡ. Chính vì vậy hiệu quả các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn hiệu quả hơn.
- Yêu cầu tổ CM  cần nghiêm túc và đúng quy trình trong công tác kiểm tra đánh giá kể cả đánh giá tiết dạy, kết quả học tập của học sinh hay các hoạt động, các phong trào khác của tổ để phát huy tốt tính năng động sáng tạo của GV. Trong đánh giá cần linh hoạt, tránh rập khuôn, máy móc cần coi trọng sự cố gắng nỗ lực của giáo viên. Đối với các đối tượng này cần tránh sự định kiến, kì thị của đồng nghiệp mà cần làm tốt công tác động viên, khuyến khích.
* Trong việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có nhiều hình thức khác nhau như:  Lãnh đạo nhà trường bồi dưỡng giáo viên; Tổ, cốt cán chuyên môn bồi dưỡng giáo viên; Giáo viên bồi dưỡng giáo viên; chuyên viên Phòng, Sở bồi dưỡng giáo viên; giáo viên tự học tự rèn... hình thức nào cũng quan trọng, cần thiêt nhưng cần cho GV hiểu rằng con đường để hoàn thiện mình vững bền nhất là việc giáo viên tự học là chính.
5.  Tổ chức tốt các cuộc thi:
    Trong thực tế ai cũng muốn tự khẳng định mình, ai cũng muốn cố gắng hết sức mình để đạt được kết quả cao trong tập thể. Vì thế để có phong trào và sự nỗ lực thực sự thì nhà trường cần làm tốt công tác tổ chức tốt các phong trào thi đua. Qua mỗi cuộc thi, mỗi phong trào thi đua, hiệu trưởng khẳng định thêm được năng lực thực sự của mỗi người trong mỗi mặt khác nhau từ đó có kế hoạch để vận dụng hay có kế hoạch để bồi dưỡng thêm.
  - Công tác thi giáo viên dạy giỏi cấp trường được tiến hành hàng năm và cũng mang lại tác dụng đáng kể. Hàng năm trường yêu cầu 100% giáo viên đăng kí tham gia ( những giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, cấp huyện nhiều năm liền được miễn phần thi lí thuyết). Mỗi giáo viên tham gia 02 bài thi: Một bài lý thuyết với nội dung về kiến thức liên quan, kĩ năng dạy- học, các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học, các kiến thức, quy định về chuyên môn … Một bài thi thực hành bằng 2 tiết dạy (1 tiết Tiếng Việt hoặc tiết Toán và 1 tiết môn khác do Gv tự chọn). Cuộc thi này được tiến hành hàng năm một cách có quy trình và có tác dụng thật sự. Trước hết cuộc thi này đã tạo ra được không khí sôi nổi, giáo viên lo lắng ôn tập, nhiệt tình tham gia. Đây là lúc giáo viên có dịp thể hiện mình cũng là dịp để tự khẳng định mình trong tập thể, qua cuộc thi, giáo viên biết thêm những mặt còn yếu của mình để từ đó tự tìm cách uốn nắn, khắc phục. Đồng thời thông qua đó, nhà trường chọn cử giáo viên tham gia dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện hàng năm được chính xác, công bằng và có chất lượng. Cũng thông qua đó mà ban giám hiệu biết được năng lực của từng GV để có kế hoạch, biện pháp bồi dưỡng cho phù hợp.
- Bên cạnh đó hàng tháng, hàng năm còn kiểm tra năng lực, kết quả của giáo viên thông qua kết quả học tập, rèn luyện và thi đua của học sinh trong lớp qua các kì thi kiểm tra định kì, từ đó hiệu trưởng có kế hoạch nhắc nhở uốn nắn các giáo viên của mình một các cụ thể. Tổ chức tốt các cuộc thi, đánh giá nghiêm túc kết quả các cuộc thi của nhà trường, của đội, sao nhi đồng cũng góp phần giúp giáo viên hiểu biết thêm về kiến thức cũng như nghệ thuật giảng day của các Gv.
 Ví dụ: Tổ chức tốt một số cuộc thi: Thi “kể chuyện đạo đức theo sách”; thi Văn hay- chữ tốt; thi văn nghệ, thể thao, thi “Rung chuông vàng” theo các chủ điểm ...Tổ chức các cuộc thi cũng là dịp để cô và trò cùng ôn lại kiến thức và học tập thêm một số nội dung liên quan bổ ích khác.
Tổ chức tốt các cuộc thi cấp trường cho học sinh như thi giải toán, tiếng anh qua mạng, thi tìm hiểu quê hương, Đảng Bác... Qua mỗi cuộc thi có đánh giá nhận xét và khen thưởng kịp thời cho HS và GV phụ trách. Tổ chức tốt các cuộc thi của học sinh cũng là một dịp tăng thêm hiểu biết cho GV vì muốn học sinh mình đạt kết quả cao thì GV phải đầu tư bồi dưỡng, muốn bồi dưỡng thì phải tìm hiếu học hỏi.
6. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện cho GV hoàn thành tốt nhiệm vụ.
      Đời sống vật chất, tinh thần có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của cá nhân và tập thể. Trong thực tế, đời sống của đội ngũ giáo viên hiện nay đã được cải thiện phần nào so với trước đây, nhưng đối với một số giáo viên trên thì có 2 GV điều kiện kinh tế có hoàn cảnh khó khăn. Cụ thể 1 GV chồng thường xuyên ốm đau bệnh tật, 1GV có chồng thường xuyên theo ban bè tụ tập say rượu. Vì vậy, Hiệu trưởng cần phải có sự quan tâm thích đáng và kịp thời nhằm động viên tinh thần để giáo viên của mình yên tâm công tác:
     - Trước tiên nhà trường cần phải thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách, đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh thần cho GV như: làm tốt công tác nâng bậc lương, ngạch lương theo đúng kì hạn, động viên giáo viên cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao, tổ chức tốt việc dạy học 2 buổi/ ngày để giúp giáo viên tăng thêm thu nhập.
- Làm tốt công tác động viên khen thưởng đối với các đối tượng có thành tích như: thưởng thích đáng cho những GV đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, những GV có nhiều học sinh giỏi, những GV có thành thích xuất sắc ở các mặt hoạt động khác ...Đối với các Gv trên nên có sự động viên đúng mức và kịp thời nhằm khuyến khích sự cố gắng của họ.
- Phối hợi với công đoàn quan tâm thăm hỏi chăm sóc Gv và người nhà khi ốm đau, hoạn nạn, chia sẻ niềm vui nổi buồn với anh chị em một cách kịp thời. Động viên chị em tạo điều kiện tốt nhất cho 2 đối tượng trên kể cả về vật chất, tinh thần trong mọi lúc, mọi nơi để động viên họ vượt qua khó khăn, mặc cảm để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ cần một món quà nho nhỏ, một buổi viếng thăm ngắn ngủi sau buổi dạy, một cuộc nói chuyện thân tình với GV và người thân của họ đã đem lại hiệu quả đáng kể trong việc động viên tinh thần để họ vươn lên trong công tác.
   Tổ chức tốt việc kỉ niệm các ngày lễ: 20/11; 8/3 hàng năm. Nên tổ chức :
“ Toạ đàm, gặp mặt” Dâu rể hay mẹ chồng để có thêm sự hiểu biết, đồng cảm, thêm nguồn động viên từ người thân trong công việc, giúp GV mình có được chỗ dựa vững chắc để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
   Thành lập và duy trì tốt các đội văn nghệ, đội bóng chuyền để nâng cao sức khỏe và tạo tinh thần sảng khoái, tình đoàn kết, tạo thêm niềm tin cho giáo viên hăng say công tác.
   Làm được như thế trong 2 đối tượng trên cũng phần nào được tăng thêm sức mạnh, những lúc gặp khó khăn cũng phần nào được ấm lòng hơn và từ đó bớt đi gánh nặng gia đình và yên tâm công tác.  
7. Chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên
       Bất cứ công việc nào muốn đạt hiệu quả và mục tiêu đề ra đều phải làm tốt công tác kiểm tra và đánh giá. Trong đánh giá giáo viên cần Hiệu trưởng cần làm tốt các kênh đánh giá như: Hiệu trưởng đánh giá giáo viên; Tổ đánh giá giáo viên; giáo viên đánh giá giáo viên; giáo viên tự đánh giá bản thân mình. Trong thực tế có những giáo viên không hài lòng với kết quả đánh giá của hiệu vụ, tổ CM, của bạn bè đồng nghiệp vì thế cần phải làm sao để giáo viên đánh giá đúng thực chất năng lực của mình, không dấu dốt, sẵn sàng bộc lộ bản thân và sẵn sàng học hỏi đồng nghiệp.
     Trong những năm, qua trường chúng tôi đã tiến hành tương đối tốt công tác kiểm tra, đánh giá bằng nhiều hình thức khách nhau theo các kênh trên đây bằng các hình thức như kiểm tra đánh giá thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra đột xuất...đặc biệt là việc kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên hàng năm. Thông qua kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên để biết được thế mạnh cũng như điểm yếu của họ, để từ đó phát huy những mặt mạnh, khắc phục những điểm yếu của mỗi giáo viên. Trong kiểm tra đánh giá phải chính xác khách quan, tạo niềm tin cho toàn thể đội ngũ, cũng từ đó hình thành ý thức tự giác, tự kiểm tra bản thân của mỗi cán bộ giáo viên để cố gắng.
     Về kiểm tra đánh giá một giáo viên chúng ta cần dựa vào các tiêu chí của các tiêu chuẩn theo chuẩn Kiến thức- Kỹ năng giáo viên Tiểu học. Công tác đánh giá xếp loại GV hàng năm là một việc làm hết sức quan trọng. Vì vậy  trong đánh giá cần phải thật sự chính xác, khách quan, công bằng, đúng quy trình. Có như thế mới có sức thuyết phục, mới xây dựng được lòng tin của tập thể. Đối với các đối tượng trên cần được khích lệ nhiều khi họ có sự nỗ lực phấn đấu ở bất kì lĩnh vực nào. Để giúp họ tiến bộ cần kiểm tra thường xuyên nhưng phải nhẹ nhàng, bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, tránh gây tâm lí nặng nề khi kiểm tra. Ở họ nên chú trọng nhiều ở khâu kiểm tra thường xuyên. Sau kiểm tra cần nêu rõ những mặt mạnh, những sự nỗ lực cố gắng của họ song cũng cần chỉ ra cho họ thấy những vấn đề họ cần phải cố gắng nhưng với thái độ nhẹ nhàng, cởi mở, gần gũi thân thiện thì mức độ tiếp thu của họ sẽ cao hơn. Tránh tình trạng gây tâm lí nặng nề, tự ti chán nản xẩy ra tự ái. 
8. Xây dựng khối đoàn kết nhất trí trong tập thể.
    Mọi thành công của tập thể đều bắt nguồn từ sức mạnh đoàn kết. Để xây dựng được khối đoàn kết nhất trí, mỗi cán bộ quản lý phải thật sự đầu tàu, gương mẫu,  phải là trung tâm xây dựng khối đoàn kết nhất trí trong tập thể. Phải biết động viên anh chị em trong trường luôn biết chia sẻ vui, buồn, giúp đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Làm tốt công tác thi đua khen thưởng, đánh giá xếp loại chính xác, sử dụng đội ngũ hợp lý, công bằng để tạo lòng tin đối với tất cả giáo viên. 
  Trong tập thể, mỗi người có mặt mạnh riêng của họ, có thể họ yếu mặt này nhưng lại nổi trội về mặt khác vì thế cần biết phát huy các mặt mạnh của họ và giúp họ ở các mặt còn yếu. Thực tế trong 4 đối tượng giáo viên trên họ có phần non về kiến thức, chuyên môn nghệp vụ nhưng họ lại là những người nhiệt tình, sống có tình nghĩa với bạn bè và đồng nghiệp, siêng năng, cần cù trong lao động nên có thể giao cho họ phụ trách một mảng nào đó trong tập thể như phụ trách lao động- vệ sinh; công tác xanh-sạch- đẹp; công tác an ninh trường học...để họ được cọ xát nhiều hơn với công việc sát cánh hơn với đồng nhiệp. Được sự động viên khích lệ kịp thời của lãnh đạo và đồng nghiệp nên họ cởi mở nhiều hơn và cũng được lòng các đồng nghiệp nên việc giúp đỡ nhau trong chuyên môn cũng dễ dàng hơn.
     Nhiều năm liền, với cách làm trên, chúng tôi đã xây dựng được một tập thể sư  phạm đoàn kết nhất trí, thực sự '' kỉ cương , tình thương, trách nhiệm '' và chắc chắn đây là yếu tố không nhỏ góp phần làm nên mọi thành tích của  nhà trường.
III.  Kết quả đạt được:
Từ thực trạng, những nguyên nhân cơ bản của đội ngũ, chúng tôi đã đề ra được một số biện pháp, cách làm cụ thể, sau ba năm thực hiện việc nâng cao chất lượng
giáo viên trường chúng tôi đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi như sau:
- Thanh toán được hiện tượng GV có tiết dạy dạy yếu, Giảm tiết dạy đạt yêu cầu.
- Giảm dần tỉ lệ giáo viên xếp loại trung bình hàng năm.
- Số giáo viên dạy giỏi huyện được tăng lên rõ rệt ( năm qua 1 trong 4 đối trượng trên đạt GV dạy giỏi cấp huyện).
- Số giáo viên có khả năng dạy được toàn cấp được tăng lên. Trong số 4 GV trên cả 4 người đều dạy được toàn cấp mà lãnh đạo không cần phân vân, lo ngại
IV.  Bài học kinh nghiệm.
     Từ những cách làm trên chúng tôi rút ra bài học:
Để thực hiện thành công việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên cần phải:
- Nắm chắc năng lực đội ngũ giáo viên.
- Sắp xếp, bố trí đội ngũ phù hợp thực tế.
- Có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể cho từng loại đối tượng.
- Chỉ đạo tốt hoạt động của tổ CM.
- Biết vận dụng mặt mạnh của từng cá nhân vào công việc để củng cố uy tín của từng người trong tập thể.
- Làm tốt công tác kiểm tra đánh giá xếp loại GV.
- Có chính sách động viên khen thưởng kịp thời.
- Việc bồi dưỡng đội ngũ là việc làm cần thiết, lâu dài và phải thật sự kiên trì, bền bỉ.
                                                 C. KẾT LUẬN.
      Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phân tích thực trạng của công tác bồi dưỡng đội ngũ tại trường, qua nhiều năm tìm tòi nghiên cứu và thực nghiệm, tôi đã đề xuất được một số giải  pháp thực hiệm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, như chúng ta biết rằng chất lượng đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục của học sinh bởi vậy hàng năm hiệu trưởng cần làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ nhằm từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục, cho dù trong hoàn cảnh, mức độ nào cũng cần phải cố gắng hết sức để xây dựng được đội ngũ giáo viên của mình đủ mạnh về chất lượng để hoàn thành nhiệm vụ được giao đáp ứng yêu cầu giáo dục đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù đề tài đã đề xuất được một số giải pháp nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều giải pháp khác mà bản thân chưa đề cập tới, đó chính là công việc bản thân cần tiếp tục nghiên cứu, học hỏi để làm tốt công tác nâng cao chất lựợng đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
       Trên đây là một số biện pháp mà bản thân tôi đã áp dụng trong những năm qua tại trường và thấy được bước đầu có hiệu quả. Với khả năng bản thân còn có hạn, điều kiện thời gian nghiên cứu thể nghiệm chưa nhiều, đề tài không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và thiết thực hơn./.
Xin chân thành cảm ơn!
 
 
 
 

Tác giả bài viết: HT: Nguyễn Thị Bích Hằng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: vấn đề

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn